Như ngôi nhà khéo lợp, mưa không xâm nhập vào. Cũng vậy tâm khéo tu, tham dục không xâm nhập.Kinh Pháp cú (Kệ số 14)
Học Phật trước hết phải học làm người. Làm người trước hết phải học làm người tốt. (學佛先要學做人,做人先要學做好人。)Hòa thượng Tinh Không
Sự hiểu biết là chưa đủ, chúng ta cần phải biết ứng dụng. Sự nhiệt tình là chưa đủ, chúng ta cần phải bắt tay vào việc.
(Knowing is not enough; we must apply. Willing is not enough; we must do.)Johann Wolfgang von Goethe
Không nên nhìn lỗi người, người làm hay không làm.Nên nhìn tự chính mình, có làm hay không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 50)
Vui thay, chúng ta sống, Không hận, giữa hận thù! Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù!Kinh Pháp Cú (Kệ số 197)
Kẻ bi quan than phiền về hướng gió, người lạc quan chờ đợi gió đổi chiều, còn người thực tế thì điều chỉnh cánh buồm. (The pessimist complains about the wind; the optimist expects it to change; the realist adjusts the sails.)William Arthur Ward
Hào phóng đúng nghĩa với tương lai chính là cống hiến tất cả cho hiện tại. (Real generosity toward the future lies in giving all to the present.)Albert Camus
Người khôn ngoan chỉ nói khi có điều cần nói, kẻ ngu ngốc thì nói ra vì họ buộc phải nói.
(Wise men speak because they have something to say; fools because they have to say something. )Plato
Thường tự xét lỗi mình, đừng nói lỗi người khác.
Kinh Đại Bát Niết-bàn
Cỏ làm hại ruộng vườn, tham làm hại người đời. Bố thí người ly tham, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 356)
Dầu mưa bằng tiền vàng, Các dục khó thỏa mãn. Dục đắng nhiều ngọt ít, Biết vậy là bậc trí.Kinh Pháp cú (Kệ số 186)
Ở Đại Lý, tỉnh Vân Nam, dân tộc Bạch Tộc sống quây quần với nhau trong
một sơn trại. Trong sơn trại có một ngôi miếu thờ một bức tượng Quán Âm
lưng cõng một tảng đá lớn. Nghe nói rằng ngôi miếu này đã được dân Bạch
Tộc xây lên từ thời nhà Hán để tạ ơn ngài Quán Âm.
Đại Lý ở Vân Nam đất đai phì nhiêu, non xanh nước biếc. Người Bạch Tộc
đã định cư ở đây từ không biết bao nhiêu thế hệ rồi. Đó là một sắc dân
hiền lành chất phác, siêng năng cần mẫn và còn hát hay múa đẹp. Họ sống
một đời sống thanh bình, đủ ăn đủ mặc. Nhưng những năm cuối của triều
đại nhà Hán, thiên hạ loạn lạc, dân Bạch Tộc bị nạn đao binh đe dọa.
Số là có một vị tri phủ ở Quế Lâm, Quảng Tây, đã dấy binh làm loạn và
muốn kiếm tiền mua binh khí và lương thực nên nhắm sơn trại Đại Lý của
dân Bạch Tộc, quyết định kéo binh đến xâm chiếm sơn trại. Vị tri phủ nọ
thừa biết dân Bạch Tộc hiền lành, không có phòng vệ, cho rằng xâm chiếm
sơn trại cướp đoạt tiền tài của cải của dân Bạch Tộc là một việc dễ dàng
như trở bàn tay, nên dẫn đầu một toán binh sĩ hăm hở rầm rộ lên núi.
Nghe tin này, dân Bạch Tộc kinh hoàng, không ai là không lo sợ bất an.
Ngay đúng cái thời điểm nguy hiểm đó, Bồ Tát Quán Âm đặt chân lên sơn
trại.
Đầu tiên, Ngài hóa thành một vị du tăng hành cước, tìm đến nhà trại chủ
xin tá túc qua đêm. Trại chủ đang ưu sầu ủ ê, không biết sao đối phó với
đám loạn binh đang kéo đến, nên nói với vị tăng hành cước:
– Sư phụ ơi, sư phụ đừng nghỉ chân đêm nay ở chỗ này thì hơn. Sư phụ
không thấy đám loạn binh đang muốn xâm chiếm sơn trại của chúng tôi đó
sao? Chúng tôi đang bàn tính với nhau tìm cách chống cự, nhưng ở đây
binh lính không đông, tướng tá cũng không nhiều, làm sao chống cự lại
họ! Dân chúng trong làng đang kiếm đường chạy giặc tứ tán, sư phụ nên
chạy trốn đi để khỏi mất mạng.
Ai ngờ vị tăng hành cước điềm nhiên trả lời:
– Xin trại chủ bớt lo phiền, bần tăng có cách làm cho họ lui binh.
Trại chủ nhìn vị tăng một cách kinh dị:
– Làm cho họ lui binh? Sư phụ chỉ có một mình, làm cách nào để đẩy lùi
họ được?
Vị tăng đáp:
– Bần tăng có cách. Chỉ xin trại chủ y theo lời của bần tăng mà bố trí
là được. Một là tứ bề xung quanh thôn trại, phải cắm cờ xí cho nhiều
vào. Hai là đặt chừng một trăm người lính đứng thủ vệ cửa trại một cách
chỉnh tề để cho địch tưởng rằng bên trong sơn trại có một số đông quân
lính đang mai phục và phòng vệ cẩn mật. Một chút nữa khi địch quân tới,
một mình bần tăng sẽ đi chận họ lại.
Nói xong vị tăng rời sơn trại. Trại chủ bán tín bán nghi nhưng cũng cho
sắp đặt bố trí y như lời vị tăng dặn dò.
Lúc ấy, một toán quân do vị tri phủ lãnh đạo hùng hổ xông lên sơn trại.
Ở một chỗ cách sơn trại chừng vài trăm thước, tri phủ thấy một một người
đang chận lối đi, thì ra đó là một bà già đầu tóc bạc phơ, lưng cõng một
khối đá to tướng. Khối đá này vuông vức mỗi bề chừng hai xích, nặng ước
chừng một trăm mấy chục cân là ít. Thế mà hơi thở bà cụ vẫn đều đặn,
chân bước thoăn thoắt, nhẹ nhàng ném khối đá lên mặt đất. Nhìn trên mặt
đường thì đã có rất nhiều khối đá lớn như thế chồng thành một núi cao,
ngăn trở không có đội quân nào tiến vào được. Những tên lính tiên phong
cảm thấy kỳ dị bèn hỏi bà cụ rằng:
– Bà cụ kia, đang làm gì đó? Già cả như vậy làm sao khiêng nổi một tảng
đá lớn như thế?
Bà cụ cười đáp:
– Mấy ông không thấy sao? Tôi chồng đá để chận đường quân địch đó mà!
Tôi thì già rồi, mấy viên đá nhỏ này ăn thua gì, chứ mấy anh chàng thanh
niên trẻ tuổi trong trại thì khác, họ khiêng đá tảng nào tảng nấy to hơn
thế này nhiều!
Người binh sĩ tiên phong nghe bà cụ nói thế bèn nói riêng với tên lính
bên cạnh:
– Nếu bà già này mà sung sức như vậy thì bọn trai trẻ trong trại chắc là
sức mạnh vô địch! Thật là đáng sợ.
Nói xong vội vàng trình tự sự lên vị tri phủ. Tri phủ tiến đến gần đội
quân tiên phong, nhìn thấy tường đá rồi thì sợ hãi vô cùng. Ngước lên
nhìn lần nữa thì thấy xung quanh trại cờ xí phần phật trong gió, đội
quân thủ vệ thì tề chỉnh nghiêm mật, uy phong lẫm lẫm, bỗng đâm ra rụt
rè, thầm nghĩ:
– Dân trên núi này sức mạnh vô song, ta không phải là đối thủ của họ, tự
nhiên tiến vào chiếm đất thế nào cũng bị thua to!
Nghĩ thế xong bèn lập tức hạ lệnh lui binh. Bọn lính rút về Quảng Tây,
thầm lặng như những con rùa rụt đầu.
Dân chúng từ sơn trại nhìn xuống, thấy rõ ràng mọi sự đã xảy ra. Trước
tiên, họ ngạc nhiên thấy có một bà lão không biết từ đâu xuất hiện,
nhưng lại không thấy vị tăng hành cước đâu nữa. Sau đó họ thấy bà lão
ung dung thư thái từ eo núi bước ra với những tảng đá lớn trên lưng, rồi
lại thấy đoàn quân giặc lên núi, không đánh mà lui thì vừa kinh ngạc vừa
mừng rỡ. Đợi quân dịch rút lui xong, dân làng mới chạy túa ra đi tìm bà
lão, nhưng bà đã biến đâu mất từ lâu!
Về sau, có một ông lão Phật tử duy nhất trong sơn trại bỗng nhiên đại
ngộ, nghĩ ra rằng vị tăng hành cước và bà lão kia đều là Bồ Tát Quán Âm
hiển thánh, và nói lên sự khám phá của mình cho mọi người nghe.
Dân làng ùn ùn quỳ xuống khấu đầu lễ tạ, tạ ơn Bồ Tát đã cứu họ khỏi nạn
đạo binh, người mất nhà tan. Sau đó họ còn cùng nhau lập miếu thờ bức
tượng Ngài Quán Âm cõng đá để đời đời ghi nhớ công ơn hóa độ của Ngài.
Chú ý: Việc đăng nhập thường chỉ thực hiện một lần...
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.133 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này. Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập
Thành viên đang online: Viên Hiếu Thành Huệ Lộc 1959 Bữu Phước Chúc Huy Minh Pháp Tự minh hung thich Diệu Âm Phúc Thành Phan Huy Triều Phạm Thiên Trương Quang Quý Johny Dinhvinh1964 Pascal Bui Vạn Phúc Giác Quý Trần Thị Huyền Chanhniem Forever NGUYỄN TRỌNG TÀI KỲ Dương Ngọc Cường Mr. Device Tri Huynh Thích Nguyên Mạnh Thích Quảng Ba T TH Tam Thien Tam Nguyễn Sĩ Long caokiem hoangquycong Lãn Tử Ton That Nguyen ngtieudao Lê Quốc Việt Du Miên Quang-Tu Vu phamthanh210 An Khang 63 zeus7777 Trương Ngọc Trân Diệu Tiến ... ...